A HÀM và NIKAYA - M*A PHÁP CHUY*N HÓA

Report
Ni Sư TN Giới Hương
Ngày 14 tháng 08 năm 2011
Tại Hội Phật Học Đuốc Tuệ, CA
7/21/2011
1








Kinh tạng Nikàya (Pàli) và A-hàm (Hán tạng) là những
bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh
tạng Nguyên thủy. Đó là những bộ kinh chứa đựng
những gì Đức Phật đã tuyên thuyết trong 12 năm đầu
như Tổ Thiên Thai nói:
“Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật,
A Hàm thập nhị phương đẳng bát,
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp hoa, Niết bàn cộng bát niên.”
Nội dung A-hàm và Nikaya nói về những giáo lý căn
bản như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô ngã, vô thường,
vv….
7/21/2011
2
1.1. Kiết tập lần thứ nhất
Sau khi Phật nhập diệt, 500 vị A-la-hán tập hợp
trong hang Thất Diệp, Vương Xá. A-nan tụng
Pháp (Kinh).
Lần kiết tập này chủ yếu tụng Kinh tạng.
Nguồn gốc sâu xa của Kinh A-hàm và Nikaya bắt
nguồn từ lúc này.
1.2. Kiết tập lần thứ hai
Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, 700 Tỳkheo tập hợp tại thành Tỳ-xá-ly.
Lần kiết tập này chủ yếu tụng Luật tạng.
7/21/2011
3




1.3. Kiết tập lần thứ ba
Sau khi Phật nhập diệt khoảng 236 năm, tức là
thời Vua A-dục, đại chúng tập hợp tại thành
Hoa Thị.
Đồng diệp bộ (Tamrasatiyah) đã kiết tập năm
bộ Nikàya rất đầy đủ.
3 kỳ kiết tập trên chỉ là do truyền khẩu và học
thuộc lòng.
7/21/2011
4






1.4. Kiết tập lần thứ tư
Khoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
Lần kiết tập thứ tư này chủ yếu là luận thích Tam Tạng
và bắt đầu được chép thành văn.
Riêng 5 bộ Nikàya được Tỳ kheo Mahinda mang qua
Tích Lan vẫn giữ phong cách truyền khẩu cho đến khi
một đại hội kiết tập được tổ chức tại Tích Lan ở làng
Aluvihata.
Đây là lần đầu tiên, Ba tạng Pàli được chép bằng chữ
trên lá buông vào năm 83 trước Tây lịch.
Tóm lại, Kinh A-hàm hay Nikaya được tụng vào lúc
kiết tập lần thứ nhất, từ lần kiết tập thứ hai đến thứ tư,
tức vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên là thời kỳ
Kinh A-hàm hay Nikaya chính thức được thành lập.

7/21/2011
5


Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm,
Phật giáo Nguyên Thủy chia thành Đại Chúng Bộ và
Thượng Tọa Bộ.



Kinh tạng của Thượng Tọa Bộ ở phương Nam là 5 bộ
Nikaya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăngchi Bộ, Tiểu Bộ) chép bằng văn Pàli.
Đây là năm bộ A-hàm Nam truyền hay gọi là Nikaya.



Kinh tạng của Đại Chúng Bộ ở phương Bắc có bốn bộ
A-hàm (Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất Ahàm và Tạp A-hàm) được ghi bằng Phạn văn.
Đây là bốn bộ A-hàm Bắc truyền.

7/21/2011
6

Trường A-hàm của Bắc truyền tương đương với
Trường Bộ kinh của Nam truyền.

Trung A-hàm của Bắc truyền tương đương với Trung
Bộ kinh của Nam truyền.

Tạp A-hàm của Bắc Truyền tương đương với Tương
Ưng Bộ kinh của Nam Truyền.

Tăng Nhất A-hàm của Bắc Truyền tương đương với
Tăng-chi Bộ kinh của Nam Truyền.

A-hàm của Bắc Truyền không có kinh nào tương
đương với Tiểu Bộ Kinh của Nam Truyền .

7/21/2011
7


Năm bộ kinh Nam truyền được ghi bằng văn Pàli,
gần với ngôn ngữ thường dùng ở thời Phật.
Nam truyền giàu sắc thái nguyên thủy hơn Bắc
truyền.




Như vậy, toàn bộ lời Phật dạy được chia làm hai
nhóm:
Pháp (Dhamma) tức Kinh tạng gồm
Bốn bộ A-hàm hay Năm bộ Nikaya.


Luật (Vinaya) còn gọi là luật tạng, tức nguyên tắc
đạo đức, giới luật.

7/21/2011
8







3.1. A-HÀM gồm có 4 bộ:
1/. Trường A-hàm (những bài kinh dài)
2/. Trung A-hàm (những bài kinh bậc trung)
3/. Tạp A-hàm ( những bài kinh ngắn, nhiều chủ đề,
nhiều đối tượng)
4/. Tăng Nhất A-hàm (những bài kinh sắp xếp theo
con số, pháp số thứ tự tăng dần)
Như vậy, kinh Phật xuất hiện sớm nhất là sau Phật diệt
độ vài tháng, và muộn nhất là từ Phật diệt độ 500 năm
về sau.


Các kinh được dịch suốt thời gian 60 năm mới hoàn
thành.

7/21/2011
9

3.2. NIKAYA gồm 5 Bộ:

1/. Trường bộ kinh (những bài kinh dài)

2/. Trung bộ kinh (những bài kinh bậc trung)



3/. Tương ưng bộ kinh ( những bài kinh ngắn,
nhiều chủ đề tương ứng với đối tượng)
4/. Tăng chi bộ (những bài kinh sắp xếp theo con
số, pháp số thứ tự tăng dần)
5/. Tiểu bộ kinh (nhiều đề tài phong phú)
7/21/2011
10

4. SỐ LƯỢNG TỪNG KINH
4.1. KINH TRƯỜNG A-HÀM VÀ TRƯỜNG BỘ KINH


Kinh Trường A-hàm gồm 30 kinh.
Trường Bộ Kinh có 34 kinh.
4.2. KINH TRUNG A-HÀM VÀ TRUNG BỘ KINH
 Kinh Trung A-hàm có 222 kinh.
 Trung Bộ Kinh có 152 kinh.
4.3. KINH TĂNG NHẤT A–HÀM VÀ TĂNG CHI BỘ
KINH
 Tăng Nhất A-hàm gồm có 472 kinh.
 Tăng Chi Bộ là tuyển tập 9557 bài Kinh.
7/21/2011
11
4.4. KINH TẠP A – HÀM VÀ TƯƠNG ƯNG BỘ
KINH




Tạp A Hàm có1362 tiểu kinh.
Tương Ưng Bộ gồm có 2858 tiểu kinh.
Tổng kết: Bốn Bộ A-hàm khoảng
(30+222+472+1362) 2086 bản kinh
Trong khi Bốn Bộ Kikaya khoảng
(34+152+9557+2858) 12.601 bản kinh + 15
kinh của Tiểu Bộ kinh nữa là 12.616
7/21/2011
12


A-hàm không có bộ nào tương ứng với Tiểu Bộ Kinh.
Nên A-hàm chỉ có bốn bộ trong khi Nikaya có năm bộ.
Tiểu Bộ Kinh là tuyển tập gồm có 15 bộ Kinh theo chủ đề
như:
1.
Kinh Tiểu Tụng
2.
Pháp Cú
3.
Kinh Phật Tự Thuyết, Cảm hứng ngữ
4.
Phật thuyết như vậy
5.
Kinh tập
6.
Chuyện Thiên cung
7.
Chuyện Ngạ quỷ

7/21/2011
13
8. Trưởng lão Tăng kệ
9. Trưởng lão Ni kệ
10. Bổn sanh hay Chuyện tiền thân Đức Phật
11. Nghĩa tích
12. Vô ngại giải đạo
13. Sự nghiệp anh hùng
14. Phật sử
15. Sở hạnh tạng
7/21/2011
14
5. ĐiỂM KHÁC và GIỐNG
giữa TRUYỀN THỐNG NGUYÊN THỦY và PHÁT TRIỂN


















Lời Phật dạy được phân làm hai truyền thống:
Truyền thống Nguyên thủy
Truyền thống Phát triển.
5.1. ĐIỂM KHÁC giữa HAI TRUYỀN THỐNG
Danh Tánh: về mặt Địa lý truyền thừa thì gọi là
Phật giáo Bắc tông (truyền bá Phật Giáo ở phương Bắc của Ấn Độ)
Phật giáo Nam tông (phương Nam của Ấn Độ).
Tư tưởng Phật giáo Phát triển kế thừa giáo lý Nguyên thủy.
Lịch Sử: Kinh A Hàm và Nikaya thuyết minh rõ:
Địa điểm
Đối tượng
Tên người
Thời gian
Trong khi đa phần kinh Đại thừa thường thiếu về mặt này.

7/21/2011
15




Thực tiễn và triết lý: A Hàm và Nikaya thường mang màu sắc:
Sống động của đời thường
Tâm tư của từng cá nhân
Những thống khổ mà thân tâm con người thường phải đối diện.

Kinh Tạng Nguyên Thủy mô tả cụ thể:
Tư tưởng học thuật
Sinh hoạt
Tập quán
Tôn giáo
Văn hóa Ấn Độ

Các bậc xuất gia ngày xưa thường trì mật chú.

Mùa hạ bên Ấn Độ thường nhằm mùa mưa, Đức Phật mới chế định pháp kiết
hạ an cư.

Kinh Đại Thừa thường nói về cảnh giới hoa tạng Bồ tát và chư Phật.






7/21/2011
16

Tiệm tiến: A Hàm và Nikaya nói rằng
Ba độc mà không đoạn thì không thể nào thoát ly
sinh lão bệnh tử.

Ba độc là tham dục, sân nhuế và ngu si.

Muốn đoạn tham sân si thì phương pháp tiệm tu
là giữ giới, sanh định và phát huệ.



Khác với thiền tông là “trực chỉ chân tâm, kiến
tánh thành Phật” tức đốn tu đốn chứng
Thấy biết phiền não là giả
Khảy móng tay là lên ngôi chánh giác.
7/21/2011
17













Quán logic chi tiết:
A Hàm và Nikaya, nhất là kinh Tăng Nhất A-Hàm hay Tăng
Chi bộ kinh
Trình bày ý nghĩa của các pháp số một cách rất rõ ràng.
Như phải quán sắc là tứ đại, đất nước gió lửa rất chi li.
Ngoài ra phải quán nội sắc, ngoại sắc, sự sanh khởi, sự
đoạn diệt của sắc.
Thọ là cảm thọ, tưởng, hành, thức cũng phân tích khá rõ
như vậy.
Quan niệm sanh tử của:
Người Ấn Độ cổ đại
Triết học Hy Lạp
Thời đại Xuân Thu Chiến Quốc
Trung Quốc hiện đại
Khoa học cận đại.


7/21/2011
18




A Hàm và Nikaya trình bày rất rõ cách thức
để:
Chuyển hóa phiền não
Không còn sanh tử luân hồi
Không tái sanh nữa nếu mình muốn.





Trong khi đó, kinh điển Đại thừa thì khuyến
khích chúng ta nên nhận được
Tánh thường lạc, ngã tịnh
Tánh vô sanh bất tử
Tự tại giữa thế gian này.
7/21/2011
19
5.2. SỰ GIỐNG NHAU giữa KINH TẠNG NGUYÊN THỦY & ĐẠI THỪA











Truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những:
Kế thừa khác biệt
Điểm tương đồng cơ bản
Cả hai đều nhìn nhận Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư, thầy dạy
của trời người.
Cả hai đều lấy giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi, ba pháp
ấn Khổ, Không, Vô ngã và Giới, định, tuệ làm căn bản.
Cả hai đều từ chối về quan niệm cho rằng có một đấng tối cao sáng tạo và
ngự trị thế giới.

Cả hai cùng đề cập công hạnh Bồ tát.

Nikaya đã có đề cập đến công hạnh vị tha của 60 vị A-la-hán đầu tiên đi
khắp vùng này thôn nọ để thuyết pháp khai thị cho dân làng.

Chính tinh thần Bồ tát từ kinh Nguyên Thủy này đã phát huy mạnh mẽ
trong kinh điển Phát triển sau này.


7/21/2011
20
6. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM của A-HÀM và NIKAYA




















Tư tưởng của hai truyền thống đều giữ được phong cách và pháp vị của
thời Nguyên thủy Phật giáo.
Cả hai được giữ gìn bằng phương thức khẩu truyền suốt một thời gian
khá dài khoảng 400 năm sau Phật nhập diệt.
Diễn đạt tư tưởng Phật học một cách thiết thực gần gũi với tâm lý con
người.
Ví dụ dễ hiểu
Lý luận giản đơn nhưng rất chặt chẽ.
Nhất là những định nghĩa căn bản của thuật ngữ Phật học rất rõ ràng.
Trên phương diện Văn học sử
Hình ảnh sống động nhất và chân thật nhất về cuộc đời Đức Phật
Giáo đoàn tăng già ngày xưa là những con người hiện thực như chúng
ta.
A hàm và Nikaya cũng mô tả quan điểm của Phật về:
Vấn đề tu tập
Phương cách sống
Lối ứng xử
Vấn đề lý luận, xã hội...
rất dễ trích dẫn và dễ nhớ.
7/21/2011
21














Về mặt Tư tưởng sử:
Tư tưởng căn bản của Phật Giáo phát triển.
Phương pháp chỉ dạy để giữ giới định tuệ
Liễu sanh thoát tử,
Chứng nhập Niết-bàn.
Về phương diện công năng:
Lời Phật dạy thấm đẫm trí tuệ và từ bi
Sữa pháp
Có khả năng trưởng dưỡng thánh thai của thính chúng.
Về phương diện đối tượng:
Lời Phật dạy được gọi là “mưa pháp”
Tưới mát đều cho mọi loài, không phân biệt chủng loại, tôn
giáo, giới tính, hay lão ấu.
Ai nghe đều hưởng lợi ích như mưa tưới đều xuống thế
gian.

7/21/2011
22















Về phương diện đặc tính:
Lời Phật dạy được gọi là “biển pháp”
Vừa mênh mông, bao la,
Vừa sâu thẳm về tư tưởng, triết lý và đời sống tâm linh.
Về phương diện ứng dụng:
Sự chứng ngộ của đức Phật như rừng sâu thăm thẳm
Đức Phật chỉ giảng những gì thiệt thực hữu ích cho chúng ta.
“Nắm lá trong lòng bàn tay của ngài.”
Tóm lại,
A-hàm và Nikaya còn gọi là kinh tạng Nguyên thủy
Ghi chép lại những lời Phật dạy một cách đầy đủ và căn bản nhất.
Mang tính thiết thực gần gũi với
Tâm lý con người và
Sự sinh hoạt của xã hội.
7/21/2011
23









ĐỊNH NGHĨA KINH A HÀM và NIKAYA
A Hàm hay Nikaya, tiếng Hán dịch là Pháp Quy.
Quy là quay về. Pháp là vạn pháp.
Tất cả vạn pháp quy về một loại kinh này.
A Hàm là một khu rừng bát ngát mênh mông, bao la.
Chứa bao nhiêu ngàn bài kinh thuyết minh về đường
lối:
Hiền ngu, tội phước.
Chân, ngụy, dị, đồng

7/21/2011
24


















CHÂN NGỤY DỊ ĐỒNG
Ngụy là sự không đúng với lẽ phải, xảo trá.
Chân là chân thật, đối với chữ ngụy.
Niệm Phật để mà làm Phật thì cái đó gọi là chân.
Niệm Phật để cầu tiền bạc, tiếng khen là ngụy.
Thế nào là đồng?
Có người không niệm Phật nhưng vị ấy một lòng:
Chăm sóc bịnh nhân,
Làm việc từ thiện,
Cúng dường tam bảo,
Bố thí cứu trợ
Đối với những người ngồi niệm Phật là đồng.
Thế nào là dị?
Hai cô tuy là cùng chuỗi tràng với nhau, ngồi niệm Phật
Nhưng một người chánh niệm,
Còn một người ngồi đó để mà suy nghĩ lung tung, gọi là dị.
7/21/2011
25
















CHÂN NGỤY LÀ DO ĐÂU?
Có người đã sống chân thật,
nhưng tại sao cũng có những người sống ngụy?
Do không hiểu, không biết nên sống ngụy.
Đức Thích Ca giáng sanh xuống thế gian này:
Để khai mở cái mê,
Đừng sống ngụy nữa.
Đức Phật phải thuyết pháp,
không phải một bài kinh mà bao nhiêu ngàn bài kinh?
Bốn bộ A-hàm là 2086 bản kinh.
Năm Bộ Nikaya là 12.616 bản kinh.
Như vậy, nguyên một bộ kinh A Hàm hay Nikaya này chỉ để:
Chúng ta tỉnh ra,
Biết sự thật và hiểu cái lẽ phải.
Chuyển hóa phiền não.
7/21/2011
26










ĐƯỜNG LỐI của HIỀN NGU và TỘI PHƯỚC
Bao nhiêu ngàn bản kinh trong bộ A Hàm và Nikaya
này phân tách ra
Những nguyên do của nghiệp thiện ác để làm gì?
Tự chọn con đường mình đi,
Để chúng ta thấy hình tướng của sự tu hành và đọa
lạc,
Thấy đường lối của hiền ngu và tội phước.
Vua Đảnh Sanh là một vị Chuyển Luân Vương.
Ngài giàu có sung sướng lắm.
Một hôm, ngài ước được lên trời chơi.
Do phúc đức lớn nên ngài liền bay được lên trời.
Vua Đế Thích trông thấy ngài liền chia nửa tòa ngồi
Hai vị ngồi chung với nhau trên một tòa.

7/21/2011
27









Nhưng vua lại muốn chiếm trọn ngai vàng ấy.
Ngay khi niệm thất đức ấy khởi lên khiến cho ngài bị
rớt ngay xuống thế gian.
Dù ở trần gian mà cứ tưởng nhớ đến cõi trời và chán ở
thế gian
Ngài chết trong trạng thái không thỏa mãn, sầu ưu
khổ não, tái sanh làm ma.
Vì vua Đảnh Sanh cứ để cho cái tâm phóng túng lôi
mình đi,
Một bề mà nhắm mắt đi theo cái mê.
Đến nổi có cái phước lớn như thế mà lại trở thành một
con người chết trong khổ não.
Do lòng tham dẫn dắt và đưa đến kết quả thất bại như
vậy.

7/21/2011
28
KHU RỪNG PHONG PHÚ BAO LA
Trong A Hàm và Nikaya này, Phật kể nhiều câu chuyện về:
Thành bại,
Hiền ngu,
Phước tội của loài người,
Chư thiên ở trên trời,
Các loài ở địa ngục, ngạ quỷ, bao hàm vạn loài trong trời đất,
Nên gọi là pháp quy - vạn pháp quay về đấy.
Nên gọi là A Hàm.










ĐẠO DO ĐÂY PHÁT KHỞI











Cái gì là đạo?
Đức Phật nói những gì ngài chứng ngộ.
Chư tổ tiếp nối thực hành có chứng nghiệm.
Chúng ta học tu theo.
Thế là trong A Hàm và Nikaya Đức Phật vạch một con đường cho chúng ta đi:
Từ mê đến tỉnh
Từ khổ đến vui
Từ phàm đến thánh.
Con đường đi vào trí tuệ giải thoát đó gọi là Đạo Phật.
Đạo do đây tức đạo do A-hàm hay Nikaya hay Kinh tạng mà phát khởi.

7/21/2011
29
PHÁP DO ĐÂY TỒN TẠI




Pháp do A-hàm hay Nikaya mà được tồn tại.
Pháp nghĩa là gì?
Là những phương pháp tu hành như Giới Luật, Tứ Niệm Xứ, Bảy Giác Chi, pháp
môn tịnh độ…
Tất cả các pháp môn giải thoát mà mình đang học đấy đều gọi là pháp.













Thế nào là pháp do đây mà tồn tại?
Từ bộ A Hàm mà đạo được vạch tỏ,
Đạo được phát khởi,
Chúng ta nắm được các pháp môn thì chúng ta tu,
Hiểu điều phải, theo con đường chân thật.
Nhất định thọ trì rồi truyền bá
Do đó các pháp môn mới tồn tại được.
Nếu không có các bộ kinh A-hàm hay Nikaya còn lại
Chúng ta không biết tội phước, nhân quả để tránh.
Chúng ta sẽ dễ sống ngụy, sống giả, sống hưởng thụ và không biết ngày mai.
Những pháp môn tu phải do các Tổ đã thọ, đã trì và truyền lại
Chúng ta bây giờ cũng thọ và duy trì để ngày mai chúng ta cũng có thể giữ được
đạo và truyền lại cho người sau.
Thế là pháp do đây mà tồn tại.
7/21/2011
30










Kinh Phật Thuyết Nguyệt Dụ dạy:
“Tỳ kheo an trụ vào sự hiểu biết chân chánh:
Rời các nhiễm ô như luyện vàng ròng;
Khử trừ chất uế, thấy pháp như thế,
Chứng pháp như thế,
là pháp có thể lìa sanh già bịnh chết, sầu bi ưu não.
Dùng pháp như thế vì người khác nói,
Khiến người kia đạt được sự nghe pháp như thế,
Theo đó tu hành, ở trong đêm dài được lợi lạc lớn.
Do đó, chánh pháp được tồn tại lâu dài.”
7/21/2011
31














MỤC ĐÍCH DỨT KHỔ
Kinh A Hàm và Nikaya nói nhiều như vậy mục đích để làm gì?
Đức Thích Ca giáng sinh
Ngài nói bao nhiêu ngàn bài kinh như thế để làm gì?
Vì một mục đích duy nhất là cho chúng sanh hết khổ.
Làm thế nào để hết khổ?
Chúng ta phải học kinh A Hàm hay Nikaya để mà hết khổ.
Đức Phật nói nhiều như thế chỉ vì có một việc là làm cho chúng ta khỏi
khổ.
A Hàm hay Nikaya là biển kinh (chứ không phải vài cuốn kinh) chứa đủ
hết.
Chúng ta sẽ hiểu được hết cả chuyện xưa, chuyện nay, chuyện vuông,
chuyện tròn, chuyện tội phước, chân ngụy, chuyện địa ngục, chuyện ma
quỷ...
Nhiều việc nhờ kinh này chúng ta hiểu được hết
Biết tránh đường khổ
7/21/2011
32




A. GIOI THIỆU KINH TRƯỜNG A HÀM hay TRƯỜNG BỘ KINH
Niên hiệu Hoằng Thủy thứ 15, năm Quý Sữu, Sa Môn Tam Tạng Phật Đà Da Xá,
người nước Ký Tân đọc thuộc lòng trọn bộ Trường A Hàm.
Sa Môn Phật Niệm, người Lương Châu dịch sang tiếng Trung Hoa,
Một đạo sĩ người nước Tần là Đạo Hàm ghi chép.











Thầy Tuệ Sĩ và nhiều dịch giả khác A-Hàm dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Việt
HT T Minh Châu và vài dịch giả khác dịch năm Bộ Nikaya từ tiếng Pali ra Việt.
PHÂN MINH TÀ CHÁNH
Trường Bộ Kinh là những bài kinh dài.
Trường là giải bày dài về đường tu, hoặc chuyện lâu dài.
Y theo kinh này thì mê nhiều kiếp, tà chánh khó phân cũng được tỏ ngộ hiển nhiên
như đêm ngày.
Việc báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo tiếng, như bóng theo
hình.
Số kiếp tựa xa vời mà gần kề mình như tối sáng.
Lục đạo bao la hiện ra trước mắt mà kinh này là ánh sáng vĩ đại cho đêm dài sanh
tử. Kinh này ban mắt tuệ cho chúng sanh đui mù tức là chúng ta.



Y theo trường bộ kinh này thì mê nhiều kiếp liền được tỏ ngộ
Tà chánh khó phân sẽ phân minh hiển nhiên như đêm ngày.
7/21/2011
33
















NHÂN QUẢ BÁO ỨNG
Học A Hàm để chúng ta phân biệt:
Điều phải điều trái, người hiền người ngu như ngày và đêm
Nhân quả báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo
tiếng
Phải tin chắc chắn chứ không có mơ hồ.
Một Thầy Tam Tạng tỳ kheo chê một vị tăng già tụng kinh như
chó sủa.
Tạng thức của thầy đã ghi các lời rủa chê của thầy rồi chuyển biến
khiến kiếp sau của thầy bị làm con chó, 500 đời làm chó.
Thân người này hoại tan rã đi
Thân chó từ từ hình thành.
Ăn cắp thì mai đây làm con trâu kéo cày
Con chim, cá bị bán để trả dần nợ
Cứ thế bị bán hết thân này đến kia cho đến hết nợ
Thân chim, gà, cá dần dần phai đi
Thân trâu dần dần hiển lộ.

7/21/2011
34









Việc báo ứng, nhân quả của lời nói, việc làm đều có
quả báo như bóng hình.
Người lớn thì cái bóng sẽ lớn.
Người bé thì cái bóng phải bé.
Người nghẹo đầu ở đằng này thì cái bóng nó sẽ nghẹo
đầu ở đằng này
Vì cái bóng hình là từ cái người ấy mà ra.
Mỗi khi làm một việc bậy hay thiện, chắc chắn sẽ có
quả báo nguy hiểm hay tốt lành.
Nếu người khôn thì biết hình bóng chắc chắn như vậy
thì:
Đừng có làm sai
Đừng có sống ngụy.
7/21/2011
35
SỐ KIẾP TỰA XA VỜI
Số kiếp tựa xa vời mà gần kề như sáng tối.
Xưa kia mình làm con bò, bây giờ làm con người,
Rồi mai lại là con trâu. Đó là số kiếp, là đời sống của chúng ta.










Đi ăn trộm để có tiền tiêu xài du hí.
Tưởng như cái chuyện làm trâu, hay quả báo đối với mình nó xa lắm
Không nghĩ tới là về sau phải bị kéo cày trả nợ.
Thế nhưng thật ra gần kề như buổi sáng với tối.
Vừa mới sáng thì đã tối, vừa mới tối đã đến sáng.
Vừa mới làm con người đây, sẽ làm con trâu liền.


PHÁT SANH ĐỊNH và TUỆ


Trong kinh A-hàm và Nikaya, Đức Phật nhấn mạnh cần có hai là trí tuệ và sự an
định của tinh thần.







Có an định, trí tuệ, chúng ta mới có khả năng cứu tế đạo và đời.
Sẽ ích lợi cho người trong chùa, mà cả người thế gian.
Cần phải học kinh này để cứu tế cả đạo và đời.
Đạo là đời sống của những người xuất gia.
Đời là đời sống của những người thế gian chưa cạo đầu.
Đạo và đời đều được an lạc.
7/21/2011
36
KINH VỀ BẢY ĐIỂM QUAN YẾU
ĐỂ CHO NGÔI TAM BẢO ĐƯỢC HƯNG LONG HAY CẢ
ĐẠO LẪN ĐỜI ĐƯỢC AN LẠC
Vua Ma Kiệt Đà muốn chinh phục nước Bạch Kỳ xây đại
thành đến thỉnh ý Thế Tôn.
Đức Phật không có khuyên là nên đánh nhau hay chinh
phục.
Vì nếu bảo đi chinh phục nghĩa là đánh lấy nước kia thì:
Bao nhiêu chiến tranh, người chết, gia đình tan nát
Lại sinh ra nhiều chuyện hận thù tiếp nối.
Còn nếu bảo đừng đánh nhau, đừng làm vua, quan thế
gian nữa,
Vua quan sẽ không hài lòng và chưa chắc họ đã chịu
nghe.
7/21/2011
37
Phật hỏi Anan có nghe ở xứ Bạch Kỳ có bảy việc như sau:
1. Việc thứ nhất, dân trong nước mỗi khi có việc gì thì cùng nhau bàn luận.
Về việc cai trị dân trong nước thì cùng vua, quan và dân cùng nhau bàn
thảo để cai trị trong nước chứ vua không có độc tài, các quan cũng
không có quyền riêng, mà là có cái ý chung của tất cả mọi người.
2. Việc thứ hai là trong nước ấy, vua tôi hòa thuận trên kính dưới nhường.
3. Việc thứ ba là toàn thể dân chúng ấy người ta lễ độ, biết tôn trọng luật
pháp.
4. Việc thứ tư, trong nước các con cái biết hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận
với các bậc trên.
5. Việc thứ năm là người ta tin tưởng trên thì có thánh hiền, dưới thì có quỷ
thần cho nên người ta biết kính trọng các chùa và các đền miếu thiêng
liêng.
6. Việc thứ sáu là các người nữ nghiêm chỉnh, không có giỡn cười tà bậy.
7. Việc thứ bảy là mọi người tôn kính đạo đức, biết phụng thờ Tam bảo,
kính trọng bậc xuất gia tu đạo.
7/21/2011
38

1) TRÊN DƯỚI, TRẺ GIÀ HÒA THUẬN VÀ TÔN TRỌNG LẪN NHAU.







Trong cuộc sống hàng ngày:
Có người trên người dưới
Có trẻ có già
Có bổn phận đối với từng người
Phải hòa thuận tôn trọng lẫn nhau
Để ngôi Tam Bảo được vững và được hưng thịnh ở thế gian.







Đoàn thể của mình bình yên, tăng với ni mà được bình an
Mới có người giảng dạy Phật Pháp
Ngôi chùa mới có người trông nom
Thập phương Phật tử đến lễ chùa
Phật tử có việc gì cần người ta mới có nơi nương tựa.
Nên phải dẹp mình, quên mình mà hòa thuận.







NƠI NƯƠNG TỰA
Tam Bảo: Phật - Pháp - Tăng là nơi nương tựa duy nhất của thế gian để giải thoát.
Nếu nơi nương tựa duy nhất ấy lại tan vỡ, lại bất hòa,
Làm sao mà thế gian có nơi nương tựa
Hoặc chúng hộ pháp tức là quý bác mà tan vỡ, bất hòa,
Làm sao quý bác hộ giữ ngôi tam bảo?





Tội phá chữ Hòa nặng lắm,
Đừng khơi lên những rắc rối, những nặng nhọc
Phải cẩn thận luôn luôn tùy thuận trong tập thể,
Phải quên mình, dẹp mình lại để vui lòng đa số.
7/21/2011
39

HÒA



Chúng ta phải tập hoan hỷ vui vẽ, thân hòa, khẩu hòa, ý hòa
Những người chung quanh, tập thể của ta mát dạ hài lòng..






THUẬN
Thuận chìu tập thể trong tất cả mọi việc trừ những điều bậy
Phân biệt cái phải với cái trái, cái chánh với cái tà.
Thuận hòa không có nghĩa là chấp nhận hết tất cả cái bậy
Phải bài trừ tất cả những cái không đúng thì cái thuận hòa nó mới lâu dài được.



Trái lại, nếu mà còn để những cái sai lầm ở trong tập thể thì sự thuận hòa nó sẽ tan
rã ngay
Nó không bền đâu và cũng không phải là cách để hưng long Tam Bảo được.






Bằng cách nào mà trong tập thể
Miệng chúng ta lúc nào cũng cười hòa thuận
Mắt cũng cười
Toàn thân cũng vui vẽ để cho những người chung quanh trong ban tổ chức được
hòa ấm.
Nguyện thứ bảy của Bồ Tát Phổ Hiền: Tùy thuận chúng sanh

7/21/2011
40





2) CÔNG VIỆC PHẬT, PHÁP và TĂNG thì TẤT CẢ PHẢI ĐỒNG
Ý CÙNG LÀM
Xây chùa, đúc tượng, hay mua phẩm vật trang nghiêm Phật
là việc Phật, Phật sự. In kinh ấn tống là việc pháp, pháp sự.
Cúng dường quý thầy cô, đưa quý thầy cô đi khám bịnh,
may y áo… Đó là việc tăng, tăng sự.

Phật tử là chúng hộ pháp nên cùng hòa đồng ý tưởng trong
cách thức ủng hộ Tam Bảo

Đừng có người này muốn làm việc này, người kia muốn
làm việc kia thì không nên.

Không nên tỏ dáng bực dọc, phiền nhọc, bất mãn

Hãy tỏ ra sự dịu dàng vui vẽ hòa theo ý kiến trong Phật
Pháp Tăng sự.

7/21/2011
41











Giới luật và nội quy khác nhau thế nào?
Giới luật là lời Phật tuyên thuyết cách đây đã 2600 năm.
Lời dạy này đã áp dụng khắp không gian và thời gian.
Khắp không gian là nếu tăng ni, Phật tử có ở Hoa Kỳ hay Ấn Độ
hay Trung Quốc, hay Việt Nam đều phải vâng giữ như nhau.
Khắp thời gian nghĩa là suốt cả 2600 năm mãi về sau phải vâng
giữ những giới luật này
Nếu mình muốn chuyển hóa phiền não và giải thoát.
Còn nội quy là tùy riêng từng địa phương
Từng hoàn cảnh có các quy luật riêng phù hợp cho tổ chức của
chùa mình, địa phương mình.
Ví dụ Chư tăng đi khất thực
Ở Hoa Kỳ hay Việt Nam đa phần không phổ biến việc khất thực
này nữa.
7/21/2011
42











Nếu quý thầy cô, quý bác Phật tử giữ đủ giới luật.
Quý thầy, quý sư cô là hiện thân của giới luật xuất thế.
Quý bác là hiện thân của Phật tử hộ đạo thuần thành.
Là người tu đúng pháp, hành giả đúng pháp.
Có sự hiện hình của giới luật lên ở thân tâm của mình
Sống đúng thì phật tử nhìn thấy cái đúng ấy
Trông thấy mình là thấy giới luật
Thấy đường lối nếp sống hiền thánh
Phật tử mới mừng rỡ, mới tin, mới kính
Mới tới bên cạnh cầu tu, cầu học Phật Pháp, mới
nương tựa
Giúp phật tử tiến lên con đường giải thoát.
7/21/2011
43








4) KÍNH PHỤC NHỮNG VỊ CÓ KIẾN THỨC RỘNG VÀ
CÓ KHẢ NĂNG PHỤC VỤ ĐẠI CHÚNG.
Người có tài năng và có tâm phục vụ, tận tình đại
lao
Có gì khó cũng cố gắng làm vì:
Hộ trì ngôi Tam bảo
Vì thương những người khác.
Vì sao phải kính trọng những vị này mà không đối
xử bình đẳng bác này cũng như bác kia?
Chúng ta phải hiển công đức của những vị Bồ Tát
ấy để đại chúng thấy.
Đại chúng mới bắt chước, noi gương và biết phát
tâm phục vụ đại chúng.


7/21/2011
44













PHÒNG HỘ TÂM Ý
Chúng ta phải phòng hộ từ tâm ý của mình và biết kính trọng hiếu thuận lẫn nhau.
“Hãy phòng hộ tư tưởng của chúng ta vì chúng sẽ thành lời nói.
Hãy phòng hộ lời nói của chúng ta vì chúng sẽ thành hành động.
Hãy phòng hộ hành động của chúng ta vì chúng sẽ thành thói quen.
Hãy phòng hộ thói quen của chúng ta vì chúng sẽ thành tánh cách.
Hãy phòng hộ tánh cách của chúng ta vì chúng sẽ thành định mệnh.
Và định mệnh sẽ là cuộc đời của chúng ta”.
Đối với người trên mình lấy hiếu
Đối với bạn bè mình lấy kính
Lấy cái việc ấy làm đầu, nghĩa là dẹp cái bực dọc, cái tức tối của mình lại
Đừng hiện ra cái tướng bất hòa, phải phòng hộ từ ở trong tâm.



Vì nếu không phòng hộ thì sẽ thành thói quen vô lễ và định mệnh cuộc đời hư
hỏng.
Có phòng hộ, cái tâm mới an ổn và không bày những cái hôi dơ của tâm ra ngoài.
7/21/2011
45














HIẾU KÍNH LÀM ĐẦU
Phòng hộ đừng cho cái tâm bất kính, cái tâm vô lễ khởi lên.
Vì nó sẽ đưa mình vào những quả báo nguy hiểm.
Phòng hộ tâm ý của mình để bảo vệ cái an ổn của mình.
Khi tâm của mình an được thì cái không khí chung quanh mới bình an.
Nếu nay chống người này, mai chống người kia,
Người bên cạnh mình lại bắt chước nữa,
Dễ sinh ra những cái phong trào, thổi lên những chống đối
Tập thể phải nứt rạng rồi từ cái nứt rạng đi đến cái đổ vỡ, tan nát.
Cho nên phòng hộ từ trong tâm mình.
Phòng hộ những cái nứt rạng trong tâm mình.
Phòng hộ trước là để mình bình an và những người chung quanh mình
cũng bình an.
Nên đem cái tâm đùm bọc che chỡ và giúp ích cho nhau
Đừng bới lỗi, chỉ trích, ghen ghét sự thành đạt của người thì không nên.

7/21/2011
46








6) THƯỜNG HÀNH THIỂU DỤC TRI TÚC
Ít muốn là đừng có khởi tâm muốn cái này, muốn cái
kia;
Đừng cho tâm của mình dong duỗi, đòi cái này đòi cái
kia.
Biết đủ là khuyên mình vui với những cái hiện tại mình
đang có.
Có cái áo vá thì vui với cái áo vá miễn là mình ấm thì
thôi.
Ít muốn và biết đủ từa tựa giống nhau như hai chữ từ
và bi nhưng nó cũng có một chút khác như thế.
Đức Phật cho một thí dụ như người khảy đàn.


7/21/2011
47










Nếu một người không bình an ở trong đại chúng có yên
được không?
Không!
Chúng sẽ không yên mà còn mở ra những phiền nhọc trong
chúng.
Cho nên Phật dạy tất cả dù già dù trẻ, dù trên dù dưới
Ai cũng cứ quay về phòng hộ cái tâm của mình
Sống biết đủ, sống ít muốn, cho cái tâm bình an.
Một người bình an, hai người bình an, cả chúng bình an thì
cả đại chúng an hòa yên ổn.
Nếu người này sùng sục chuyện này, người kia sùng sục
chuyện kia thì cả chúng ấy sùng sục, không thể yên được.
Cho nên cứ mỗi người lo bảo vệ cái tâm an ổn của mình thế
thì trong chúng, trong tập thể sẽ an.
7/21/2011
48

7) TRƯỚC HÃY VÌ NGƯỜI RỒI SAU ĐÓ MỚI VÌ MÌNH, KHÔNG THEO DANH, KHÔNG
CẦU LỢI




Trong tất cả việc làm của mình nên để ý bốn việc như sau:
1. Trước vì người
2. Sau vì mình
3. Không theo danh
4. Không cầu lợi






Bất luận là làm một việc gì thì chúng ta trước hết phải vì người chứ đừng có vì
mình. Phật nói một cách dung hòa hơn là trước là vì người, sau là vì mình, chứ
không phải bỏ hẳn mình đi không nói tới.
Nhưng mà dù có vì mình, dù có vì người thì cũng nhớ đừng có theo danh cầu lợi.
Cứ thấy thiện và lợi cho người thì cứ làm
Đừng nghĩ ta làm để mọi người khen
Vì mãi mua chuộc người thì ta mãi bị hệ lụy.


Vậy đây có bảy điểm quan yếu mà chúng ta cần phải giữ để cho ngôi Tam Bảo được
hưng long hay cả đạo và đời đều an lạc.

Đây cũng là bảy thứ bi trí để bước lên ngôi thánh hiền mà trong kinh Trường Bộ,
Đức Phật đã gởi tặng cho chúng ta.
7/21/2011
49








Bảy hạng người đáng được cung kính, đáng được tôn trọng,
đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước
vô thượng ở đời là
1)
2)
3)
4)
5)
6)
7)
Người có câu phần giải thoát
Tuệ giải thoát
Thân chứng
Kiến chí
Tín giải thoát
Tùy pháp hành
Tùy tín hành.
7/21/2011
50


- Trong thời kỳ đầu tạo 30 pháp hạnh Ba La Mật, Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm
muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác đã trải qua suốt bảy a-tăng-kỳ.
Tổng cộng trong bảy a-tăng-kỳ có 125.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất
hiện trên thế gian.

- Theo Trường Bộ Kinh, Kinh Đại Bổn, khi ra khỏi thai bào, Đức Bồ Tát đứng vững,
thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước.

- Hoàng hậu Maya chỉ làm mẹ được bảy ngày rồi qua đời.

- Khi hoàng tử Siddhattha được năm ngày, có tám vị đạo sĩ Bà La Môn lỗi lạc đến
dự lễ Quáng Đính, bảy vị đưa hai ngón tay lên nói rằng hoàng tử hoặc sẽ thành vị
hoàng đế lỗi lạc nhất thế gian hoặc sẽ thành Phật, chỉ có một vị nói hoàng tử sẽ
thành Phật.

- Khi hoàng tử Siddhattha theo dự lể Hạ điền với vua cha, ngài ngồi tham thiền
dưới gốc cây trâm và đắc được sơ thiền lúc mới vừa bảy tuổi.

- Sau khi thọ dụng bát cháo do nàng Sujata dâng cúng, đức Bồ Tát đã nhịn đói suốt
bảy tuần để trải qua bốn mươi chín ngày yên lặng suy niệm dưới cội Bồ Đề.
7/21/2011
51





- Vào tuần lễ thứ sáu sau ngày thành đạo, Đức Phật di chuyển từ cây
Ajapala qua cây Mucalinda để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát thì
bổng nhiên có một trận mưa giông kéo tới. Mãng xà vương Mucalinda từ
ổ chui ra quấn bảy vòng quanh mình đức Phật để che mưa gió cho ngài.
- Một trong ba mươi hai tướng tốt của đức Phật là bảy chỗ: hai tay, hai
chân, hai vai, và thân mình được đầy đặn.
- Trong một tiền kiếp bị thất niệm với một hoàng hậu, đức BồTát đã nằm
suốt bảy ngày liền chịu đói khát, toàn thân bị siết chặt trong vòng vây của
nữ sắc.
- Trong kiếp làm con Công chúa, Bồ Tát không bị sa ngã trong suốt bảy
ngàn năm.
- Đức Phật đặt cho năm trăm thanh niên Bà la Môn kiêu mạn câu hỏi:
"Thời gian ăn hữu tình. Ăn tất cả, ăn mình. Ai là hữu tình ấy. Ăn cả đến
thời gian. Ai là người nấu chín. Thời gian, nấu hữu tình?“
và cho họ thời gian bảy ngày để trả lời. Sau bảy ngày họ vẫn không tìm
được câu trả lời nên Bồ Tát đã giải thích cho họ và đã nhiếp phục được sự
kiêu mạn của họ.
7/21/2011
52







- Bảy vị Phật quá khứ là
1. Đức Phật Vipashyin
3. Shikhin
5. Krakucchanda
7. Kashyapa.
2. Shakyamuni
4. Vishvabhu
6. Kanakamuni
- Bồ tát Maha Janaka bơi trên biển bảy ngày
nhưng khi nhìn thấy trăng tròn, biết là ngày
uposatha nên dùng nước biển xúc miệng và
nguyện thọ trì bát quan trai giới.
- Trong các chuyện tiền thân, Đức Bồ Tát làm đại
thần bảy lần.
7/21/2011
53




- Kinh Abhidhamma có bảy bộ:
1. Dhammasangani
2. Vibhanga
3. Dhatukatha
4. Puggalapannatti
5. Kathavatthu
6. Yamaka
7. Patthana

- Đức Phật thuyết giảng bộ Kathavatthu trong mười ba ngày, có
bảy mươi triệu chư thiên đắc đạo.

- Đức Phật thuyết giảng bộ Yamaka trong mười tám ngày, có bảy
mươi triệu chư thiên đắc quả.

- Bảy cõi vui dục giới là cõi người và 6 cõi trời dục giới.




- Có bảy loại khổ đau mà chúng ta đang đối mặt là:
1. Sanh
2. Già
3. Đau
4. Chết
5. Thương phải xa 6. Ghét phải gần
7. Mong cầu không được.
7/21/2011
54





















- Tâm tham có thể tạo ra bảy ác pháp là
1. Trộm cắp
2. Tà hạnh trong dục lạc
4. Nói lưỡng thiệt
5. Nói nhảm nhí
6. Tham ác
7. Kiến ác.
3. Nói dối
- Tâm sân có thể tạo ra bảy điều ác là
1. Sát sanh
3. Nói dối
4. Nói lời hung dữ
6. Nói nhảm nhí (bốn ngữ ác hạnh)
2. Trộm cắp thuộc thân ác hạnh
5. Nói lưỡng thiệt
7. Ý sân ác.
- Bảy pháp thanh tịnh là
1. Giới tịnh
3. Kiến tịnh
5. Đạo phi đạo tri kiến tịnh
2. Tâm tịnh
4. Đoạn nghi kiến tịnh
6. Tiến hành tịnh
7. Tri kiến tịnh.
- Bảy thất giác chi là
1. Phân tích giác chi
3. Hỷ giác chi
5. Niệm giác chi
2. Tinh tấn giác chi
4. Tịnh giác chi
6. Định giác chi
7. Xả giác chi.
- Có bảy điều làm sanh-khởi và tăng-trưởng tịnh giác-chi:
1. Thọ-dụng vật-thực tốt
2. Thời-tiết thích-hợp
3. Điều hòa bốn oai-nghi
4. Giữ tâm quân-bình
5. Thân-cận với những người có tâm dung hòa
6. Không thân-cận với người kiêu-mạn,
7. Có khuynh-hướng về sự tĩnh-lặng.
7/21/2011
55















- Giác phần có bảy là
1. Tứ niệm xứ
3. Tứ như ý túc
5. Ngũ lực
7. Bát chánh đạo.
2. Tứ chánh cần
4. Ngũ quyền
6. Thất giác chi
- Bảy pháp ngủ ngầm là
1. Ái dục tùy miên
2. Ái hữu tùy miên,
3. Phẫn uất tùy miên
4. Ngã mạn tùy miên
5. Tà kiến tùy miên
6. Hoài nghi tùy miên
7. Vô minh tùy miên.
- Bảy kiết sử là
1. Tùy tham kiết sử
3. Kiến kiết sử
5. Mạn kiết sử
7. Vô minh kiết sử.
2. sân kiết sử
4. Nghi kiết sử
6. Hữu tham kiết sử
7/21/2011
56



















- Bảy cõi tứ thiền là
1. Cõi quảng quả
3. Vô phiền thiên
5. Thiện hiện thiên
7. Cõi sắc cứu cánh (năm cõi tịnh cư).
2. Cõi vô tưởng
4. Vô nhiệt thiên
6. Thiện kiến thiên
- Bảy pháp kỳ diệu là
1. Papapatikutha citta: có tâm xa lánh điều ác xấu;
2. Pasarana citta: có tâm rộng mở;
3. Adhimutta kalakiriya: tâm nguyện đúng thời;
4. Visesajanattam: đặc biệt khác phần đông;
5. Tikalannu: biết rõ thời kỳ;
6. Pajutikala: thời kỳ sanh ra;
7. Manussa jatiyo: tái sanh trong cõi người.
- Bảy lợi ích của thiền Tứ Niệm Xứ là
1. Tâm được thanh lọc
3. Phiền muộn
5. Diệt khổ thân và khổ tâm
7. Chứng ngộ Niết Bàn.
2. Chấm dứt lo âu
4. Uất ức than khóc
6. Đạt Thánh đạo
- Cuộc kết tập Tam tạng lần thứ nhất trong suốt thời gian bảy tháng mới hoàn thành đầy đủ
Tam tạng và bộ chú giải.
7/21/2011
57

- Rahula xuất gia sa di lúc lên bảy tuổi.

- Ngài Ratthapala đã tuyệt thực bảy ngày để xin cha
mẹ cho xuất gia.





- Ngài Sivali nằm trong bụng mẹ đến bảy năm, bảy
ngày mới chào đời.
Mẹ của ngài thỉnh chư Tăng làm phước suốt bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy ngài hầu chuyện với đại đức
Sariputta và xin xuất gia.
- Ngài Tissa do ác nghiệp đã lỡ tạo trong kiếp làm trụ
trì một ngôi chùa
Bị tái sanh vào một làng chài và làng chài này đã bị
hỏa hoạn bảy lần, bị vua phạt vạ bảy lần.
Khi lên bảy tuổi ngài xuất gia sa di với ngài Sariputta.
7/21/2011
58






- Tôn giả Mahakassapa bị bệnh tu định luôn bảy ngày để trị
bệnh.
- Đại Đức Sa di Nirodha mới lên bảy tuổi đã tạo được đức
tin đặc biệt nơi đức vua Asoka.
Do đức tin này hàng ngày đức vua dâng cúng vật thực đến
600.000 tỳ khưu Tăng.
- Lạm dụng lòng tịnh tín của đức vua A Dục (Asoka),
nhiều tỳ khưu giả đã chung sống lẫn lộn với tỳ khưu thật
trong chùa Asokarama đến bảy năm mới bị đức vua thanh
lọc.

- Vua Asoka bị sanh làm ác thú trong bảy ngày.

- Đại thí chủ Visakha đắc quả dự lưu lúc vừa bảy tuổi.
7/21/2011
59










- Trước khi vấn đạo ngài Na Tiên, vua Milanda đã giữ gìn cẩn trọng tám
giới trong bảy ngày và giới đầu tiên là không hành vương sự trong bảy
ngày.
- Vua Ðại Thiện Kiến, có đủ bảy món báu:
1. Xe báu
2. Voi báu
3. Ngựa báu
4. Châu báu
5. Nữ báu
6. Gia chủ báu
7. Tướng quân báu.
- Bậc Thánh Nhập Lưu chỉ tái sanh cõi người hoặc cõi trời dục giới nhiều
nhất là bảy kiếp.
- Một triệu phú gia ở Sàvatthi trong tiền kiếp có bố thí đồ ăn khất thực
cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi.
Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên
giới.
Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở
Sàvatthi.
- Người cư sĩ chứng quả A La Hán nếu không xuất gia phải nhập niết bàn
trong vòng bảy ngày.
7/21/2011
60







- Bảy pháp không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc là
1. Tôn kính bậc Ðạo Sư,
2. Tôn kính Pháp,
3. Tôn kính Tăng,
4. Tôn kính học pháp,
5. Tôn kính định,
6. Tôn kính thiện ngôn,
7. Tôn kính thiện bằng hữu.
- Khi vị Thánh xả thiền Diệt thọ tưởng định, năng
lực của thiền này sẽ cho quả trong vòng bảy ngày.
- Vị Thánh bất lai sẽ không nhập thiền Diệt nếu
thấy mình không thể sống tối thiểu được bảy
ngày.
7/21/2011
61
NHỮNG CON SỐ BẢY KHÁC:
 - Bảy hạng người đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được
cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời là
1. Người có câu phần giải thoát
2. Tuệ giải
thoát
3. Thân chứng
4. Kiến chí
5. Tín giải thoát
6. Tùy pháp hành
7. Tùy tín hành.

- Có bảy hạng vợ là:
1.
Vợ như người sát nhân
2. Vợ như người ăn trộm
3.
Vợ như người chủ nhân
4. Vợ như người mẹ
5. Vợ như người chị 6. Vợ như người bạn
7. Vợ như người nữ tỳ.






- Người có đức tin có bảy đặc tính là:
1. Có tâm xả ly bố thí tài vật
2. Mong mỏi được gặp thánh nhân
3. Mong mỏi được nghe Phật pháp 4.thường có tâm hoan hỷ với việc
thiện
5. Ít khoe khoang về mình
6. Có sự chân thật không giả dối
7. Tịnh tín nơi đáng tịnh tín.
7/21/2011
62

















- Bảy chi pháp của bạn hữu:
1. Cho những gì khó cho
2. Làm những gì khó làm
3. Nhẫn những gì khó nhẫn
4. Nói lên những gì bí mật của mình
5. Che giấu bí mật của người khác 6. Không từ bỏ khi gặp bất hạnh
7. Không có khinh rẻ khi tài sản khánh tận.
-Có bảy sự thù diệu của vị Tỷ-kheo:
1. Tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp;
2. Tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng quán Pháp;
3. Tha thiết nhiếp phục lòng dục và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục;
4. Tha thiết Thiền tịnh, và trong tương lai khát vọng Thiền tịnh;
5. Tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn;
6. Tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ;
7. Tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.
- Bảy pháp thành tựu là Tỷ-kheo có:
1. Lòng tin
3. Nghe nhiều
5. Tinh cần tinh tấn
6. Chánh niệm
7. Trí tuệ.
2. Giữ giới
4. Sống Thiền tịnh
7/21/2011
63
















- Bảy pháp đưa một nam cư sĩ đến thối đọa là
1. Quên, không đến thăm Tỷ-kheo;
2. Phóng túng nghe diệu pháp;
3. Không tu tập tăng trưởng giới;
4. Ít tin tưởng các Tỷ-kheo trưởng lão, trung niên, tân nhập;
5. Nghe pháp với tâm cật nạn, tìm tòi các khuyết điểm;
6. Tìm người xứng đáng cúng dường ngoài Tăng chúng;
7. Phục vụ trước nơi đó.
- Chúng sanh sinh ra từ bụng mẹ, giai đoạn đầu tiên là
1. Kalala là chất nhờn giống như giọt dầu mè dính trên lông con thú, rảy đi bảy lần
chỉ còn một chút dính lại ở đầu lông.
2. Bảy ngày kế tiếp, chất kalala phát triển thành abbuda, giống như nước máu dợt
dợt.
3. Bảy ngày kế tiếp, chất abudda phát triển thành pesi, giống như thịt rất mềm mại.
- Bảy sức mạnh là
1. Tín lực
3. Tàm lực
5. Niệm lực
2. Tấn lực
4. Quý lực
6. Định lực
7. Tuệ lực.
7/21/2011
64













- Bảy thánh sản là
1. Tín tài
3. Tàm tài
5. Văn tài
2. Giới tài
4. Quý tài
6. Thí tài
- Bảy tư lương của định là
1. Chánh tri kiến
3. Chánh ngữ
5. Chánh mạng
Chánh niệm.
7. Tuệ tài.
2. Chánh tư duy
4. Chánh nghiệp
6. Chánh tinh tấn
7.
- Bảy thứ tưởng là:
1. Tưởng bất tịnh
2. Tưởng chết
3. Tưởng nhàm chán đối với các món ăn
4. Tưởng không hoan
hỷ đối với tất cả thế giới
5. Tưởng vô thường
6. Tưởng khổ trong vô thường
7. Tưởng vô ngã trong khổ.
7/21/2011
65

- Có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng:

1. Cúng dường cho cả hai Tăng chúng (Tỳ khưu và Tỳ khưu ni) và Đức
Phật là vị lãnh đạo.

2. Cúng dường cho cả hai Tăng chúng, sau khi Đức Phật viên tịch
(parinibbāna).

3. Cúng dường cho chúng Tỳ khưu Tăng.

4. Cúng dường cho chúng Tỳ khưu Ni.

5. Cúng dường và nói rằng: "Mong Tăng chúng chỉ định cho con một số
Tỳ khưu và Tỳ Khưu Ni như vầy".

6. Cúng dường và nói rằng: "Mong Tăng chúng chỉ định cho con một số
Tỳ khưu như vầy.

7. Cúng dường và nói rằng: "Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỳ
khưu Ni như vầy.
7/21/2011
66










- Những con số bảy sau cùng là lời Phật dạy về quả dị thục của những công
đức:
Trong bảy năm Ta tu tập từ tâm.
Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy thành kiếp hoại kiếp,
Ta không trở lui lại thế giới này.
Khi thế giới ở trong thành kiếp,
Này các Tỷ-kheo, Ta đi đến thế giới Quang âm thiên.
Khi thế giới ở trong kiếp đấy,
Này các Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên, là Ðại phạm thiên,
Vị Chiến thắng, vị Vô năng thắng, vị Biến tri, vị Tự tại.
Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, Ta là Thiên chủ Sakka.
Nhiều lần bảy lần, Ta là vị Chuyển luân vương theo Chánh pháp,
là vị Pháp vương, bậc Chiến thắng bốn phương,
đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu.

7/21/2011
67





Này các Tỷ-kheo, Ta có bảy loại châu báu này, như là
1. Xe báu
2. Voi báu
3. Ngựa báu
4. Châu báu
5. Nữ báu
6. Gia chủ báu
7. Cư sĩ báu.

Ta có hơn một ngàn người con trai,
Này các Tỷ-kheo, là những bậc anh hùng, dõng mãnh,
đánh tan địch quân.

Và khi Ta chiến thắng quả đất này, xa cho đến bờ
biển.

Ta trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng
đao, đúng với Chánh pháp.

7/21/2011
68


Tạp A Hàm là những pháp thoại mà Đức Thế
Tôn chỉ dạy cho hàng đệ tử và Thiên long bát
bộ hoặc ngoại đạo, như những phương pháp
tu hành thực tiễn và các đệ tử làm thế nào để
noi gương đức hạnh của Thế Tôn.
Nội dung của Tạp A Hàm hay Tương Ưng Bộ
Kinh, chia làm sáu phần:
7/21/2011
69


Một lòng tu tập miên mật vì sắp chết như nhìn chăm chăm
chén dầu nếu không sẽ bị đổ.
Như kinh số 37, Thế Tôn dạy chư đệ tử phải khéo nhiếp
tâm niệm, an trú tứ niệm xứ, như có một người tham sống
sợ chết, tay vin vào một cái bát đựng đầy dầu, theo sau là
một người chờ nếu có một giọt dầu rơi xuống, thì lập tức
rút dao chém chết người ấy, người ấy cho dù đi ngang qua
con đường đầy những dục vọng quyến rũ của thế gian, thì
vẫn không dám lơi tâm thất niệm, không dám quên cái bát
dầu, không dám nhìn đông ngó tây.
Kinh số 266, Thế Tôn còn rõ ràng chỉ ra…
“Việc ta đã làm, các con nay cũng phải làm theo, dưới gốc
cây, trong căn nhà trống thanh tịnh, giữa đồng nội yên tĩnh,
hãy xa lìa tục sự, trải tòa mà ngồi, hãy nỗ lực thiền định,
cẩn thận chớ buông lung, chớ để hối hận về sau”.

7/21/2011
70





Hãy tự mình là hải đảo của chính mình, tự mình cầu giải thoát và tư duy, không nên
rong ruỗi tìm kiếm bên ngoài.
Kinh số 266 chép, người có trí tuệ dùng sức mạnh của mình để né tránh rắn độc và
giặc hại, lại tự mình tạo chiếc bè để vượt qua khỏi dòng nước xoáy, để đến bờ bên
kia an ổn khoái lạc.
Kinh số 1355 còn chép một đoạn đối thoại giữa Thần giữ hồ với một vị Tỳ kheo,
biểu hiện tinh thần tu đạo là nên nương vào tự lực.
Có một vị Tỳ kheo con mắt bị bệnh, nghe lời khuyên của thầy thuốc ngồi bên hồ
nước ngửi mùi thơm của hoa để trị bệnh, bị chủ nhân của hồ nước - Thần giữ hồ
nước xem như là người ăn trộm. Thần nói với vị Tỳ kheo đó rằng, giống như người
có chiếc áo tinh khiết, chỉ cần dính một ít nhiễm ô cũng khiến người khác chú ý,
cũng vậy, nay thầy giữ giới nghiêm mật, nhưng sao lại bị đánh lừa, bị quyến rũ bởi
hương thơm của hoa? Thầy cần phải nhiếp tâm thanh tịnh, chánh niệm tĩnh giác
hơn.
Sau khi nghe lời khuyên như vậy, vị Tỳ kheo đó nhờ vị thần nên thường nhắc nhở
mình, Thần lại đáp: “Tôi không phải là người hầu của thầy, thầy nên tự biết nên làm
thế nào để chế ngự vọng tâm của mình”.
7/21/2011
71



Đức Thế Tôn chỉ bảo cho chúng ta mục đích của sự tu
hành là cầu giải thoát.
Như trong kinh số 797, Thế Tôn dạy bảo cho chúng ta
con đường tu tập vượt khỏi trói buộc thế gian là con
đường tu tập Thánh đạo tám ngành (chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định).
Tu tâp được từng điều một của tám điều chân chánh
này thì chúng ta an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và
tương lai.
7/21/2011
72



Đức Phật chỉ ra trí tuệ hay lý duyên khởi là chân lý có sẵn.
Ngài là bậc đã tìm thấy nó và nói lại cho chúng sanh. Nếu
ai muốn tu tập theo sẽ tự mình giải thoát và trí tuệ. Kinh số
324:
“Nếu chư Phật xuất hiện hoặc không xuất hiện giữa thế gian
này, thì pháp duyên khởi này vẫn là thường trú, Như Lai
nhờ giác ngộ giáo pháp này mà thành Vô Thượng Chánh
Giác, rồi truyền bá chân lý này cho nhân gian, qua đó chỉ ra
cho chúng sanh con đường đi đến giác ngộ”.
Ngoài ra, tinh thần của trí huệ này biểu hiện một cách sinh
động như trong kinh số 1352, chứng minh về sự tùy cơ
dụng công như sau:
7/21/2011
73

Có một vị Tỳ kheo đi hoằng pháp xa phải ngủ tạm qua đêm trong một khu rừng.
Bấy giờ có một người ăn trộm dưa đang ẩn gần đó thấy trăng sáng hiện ra, lập tức
ứng khẩu làm một bài thơ:


Vị Tỳ kheo ấy nghe rồi, tâm nghĩ rằng, ngay cả đứa ăn trộm cũng có thể làm thơ, ta
lẽ nào không biết sao? Liền ứng khẩu làm một bài thơ:


“Trăng sáng mày chớ ra,
 Đợi ta hái xong dưa,
 Ta đem dưa đi rồi,
 Mặc tình mày ẩn hiện”.
“Ác ma mày chớ xuất hiện,
 Đợi ta đoạn phiền não,
 Phiền não đoạn xong rồi,
 Mặc tình mày ẩn hiện”.
Sau khi đọc xong bài thơ thì vị Tỳ kheo ấy thanh thản, nhẹ nhàng, lặng lẽ nhập
định.
7/21/2011
74



Hễ còn tạo nghiệp là còn kẹt trong lý nhân quả. Bồ tát
sợ nhân, chúng sanh sợ quả.
Trong kinh số 69, Thế Tôn dạy rằng Đức Phật cũng
giống như người thế gian, nhưng khi phàm phu và
Thánh nhân trúng mũi tên, cả hai đều mang nỗi đau
đớn của thân xác.
Thánh nhân không phải vì đã chứng nghiệm giáo
pháp mà không cảm thấy đau, chỉ khác là Thánh nhân
không bị cái đau của tham sân si làm chi phối chánh
niệm mà thôi, cho nên tránh được nỗi khổ của tâm.
7/21/2011
75




Bổn kinh ghi chép rất nhiều về sự nghiệp truyền giáo của Thế Tôn
trong 49 năm, mà những tư tưởng như là “duyên khởi”, “Tứ
thánh đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chánh đạo”, “Tứ niệm xứ”,
“Ba mươi bảy phẩm trợ đạo” và “Trung đạo” v.v… lại thông suốt
toàn bộ kinh, bàng bạc trong các thời thuyết pháp cho bất luận đệ
tử hay ngoại đạo.
Có thể thấy, thông qua kinh Tạp A Hàm, chúng ta hiểu được tính
chất nhất quán viên mãn của giáo lý Thế Tôn.
Không thể vì người nghe, sự việc, thời gian địa điểm không đồng
nhau mà nội dung có khác nhau.
Tinh thần của Tạp A-hàm hay Tương Ưng Bộ Kinh là không
phóng dật, tự lực cứu cánh, trí huệ, lý nhân quả và nhất quán,
chính là những nội dung chính chẳng những trong 12 năm đầu
mà cả trong 49 năm Đức Phật thuyết pháp nữa.
7/21/2011
76









Pháp Thoại A-Hàm, 1992, Sư Bà Hải Triều Âm
Bàn về Bốn Bộ A-Hàm, Lương Khải Siêu, Gs. Định Huệ dịch
Khái Quát Lịch Sử Truyền Bá Kinh Điển và Những Đặc Điểm
của Kinh tạng Nikàya, Thích Viên Giác
Khái Quát về Nguồn Gốc Kinh A-hàm, Thích Nguyên Hiền
Kinh A-hàm với Phật Giáo Nhân Gian, Hoằng Ấn, Không
Nguyên dịch
Những Con Số Bảy trong Kinh Tạng Pali, Như Quang
Kinh Phật Thuyết Nguyệt Dụ, Tam Tạng Thần Thí Hộ, TN
Tịnh Quang dịch
Tinh Thần Nội Hàm của Kinh Tạp A Hàm, Quách Thủ Nhân,
TN Dũng Liên dịch.
Website: quangduc.com; buddhismtoday.com
7/21/2011
77

similar documents