M*t s* tác gi*, tác ph*m nh* là hi*n t**ng trong **i s*ng v*n h*c hi*n **i

Report
Một số tác giả, tác phẩm như là
hiện tượng trong đời sống văn
học hiện đại Việt Nam
Tài liệu học tập
1. Nhiều tác giả, (1998), Văn học Việt Nam
(1900-1945), NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Mã Giang Lân (chủ biên), (2000), Quá trình
hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945,
NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
3. Nguyễn Kim Anh (chủ biên), (2004), Tiểu
thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
NXB ĐHQG TP HCM.
4. Lê Trí Viễn, (1996), Đặc trưng văn học Trung đại
Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội.
6. Nguyễn Thành Thi, (2010), Văn học thế giới mở
(Tiểu luận, phê bình), NXB Trẻ, TP. HCM.
7. Hoài Thanh, Hoài Chân (tái bản 1988), Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn Học, Hà Nội.
8. Vũ Ngọc Phan, (tái bản 1960), Nhà văn hiện đại,
NXB Thăng Long, Sài Gòn.
9. Tác phẩm của một số tác giả:
- Truyện Thầy Lazaro Phiền (Nguyễn Trọng Quản)
- Tình già (Phan Khôi)
- Thơ thơ, Gửi hương cho gió (Xuân Diệu)
- Nguyên Hồng, Những tác phẩm tiêu biểu trước
1945 (Bạch Văn Hợp sưu tầm, tuyển chọn, giới
thiệu), NXB Giáo dục, (2000).
- Chí Phèo, Sống mòn (Nam Cao).
- Số đỏ (Vũ Trọng Phụng).
- Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước 1945.
Sinh viên thực hành theo nhóm
1. Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng
Quản như một hiện tượng văn học.
2. Bài thơ Tình già của Phan Khôi như một
hiện tượng văn học.
3. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945 như một hiện tượng văn học.
4. Số đỏ của Vũ Trọng Phụng như một hiện
tượng văn học.
5. Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan
như một hiện tượng văn học.
6. Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao như một
hiện tượng văn học.
7. Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao như một
hiện tượng văn học.
Nhắc lại một số khái niệm
1. Về khái niệm hiện đại hóa trong văn học
2. Văn học hiện đại Việt Nam bắt đầu từ bao
giờ? (Vấn đề phân kỳ văn học)
3. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
diễn ra như thế nào?
4. Thế nào được coi là một hiện tượng trong
đời sống văn học?
1. Về khái niệm hiện đại hóa trong
văn học
Bốn quan niệm về hiện đại hóa:
1.1. Hiện đại hóa được hiểu như sự vận động lịch đại
của văn học, cái sau mới hơn cái trước, khác cái cũ
trước đó. Như vậy, hiện đại hóa là một quá trình diễn
ra liên tục không ngừng.
1.2. Hiện đại hóa được xem như một quá trình mà
văn học bắt đầu có được đặc điểm, tính chất của văn
học ngày nay. Theo đó, hiện đại hóa đồng nghĩa với
đương đại.
1.3. Hiện đại hóa như một quá trình gia nhập
vào quỹ đạo chung của các nền văn học đã
được quốc tế hóa, tức quá trình hội nhập vào
dòng chảy của các nền văn học tiên tiến đương
đại trên thế giới (Phương Tây hóa).
1.4. Hiện đại hóa như một chuỗi tiến bộ nghệ
thuật, một sự vận động từ thấp lên cao, từ dở
đến hay theo phạm trù giá trị.
Bốn cách hiểu trên có chỗ đan xen, trùng nhau.
Chúng tôi quan niệm:
Bản chất khái niệm hiện đại hóa là quá trình
làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp
văn học Trung đại để xây dựng một hệ thống thi
pháp mới theo mô hình của văn học phương Tây
(chủ yếu là văn học Pháp) nhằm hội nhập với nền
văn học hiện đại thế giới.
(Nguyễn Thành Thi lại quan niệm quá trình
hiện đại hóa văn học, nhìn từ bên trong, chính là
một quá trình hình thành và tương tác thể loại).
Đặc trưng thi pháp văn học Trung đại:
- Tính quy phạm chặt chẽ (mục đích giáo huấn,
quan niệm và sử dụng các thể loại văn học; sử
dụng văn liệu theo mô tip, công thức…)
- Ước lệ trở thành nguyên tắc, chuẩn mực . Từ
đó dẫn đến tính uyên bác, các điệu hóa; tính
sùng cổ và tính phi ngã.
(Xem thêm: Lê Trí Viễn, Đặc trưng văn học
Trung đại Việt Nam)
2. Văn học hiện đại Việt Nam bắt đầu từ bao giờ?
2.1. Có các ý kiến khác nhau: từ 1930?, từ 1920?, từ đầu
TK XX?, từ cuối TK XIX đầu TK XX? gắn liền với quá trình
sưu tầm, bổ sung nguồn tư liệu và sự phát triển của
công tác nghiên cứu văn học.
Các ý kiến đều thống nhất coi 30 năm đầu thế kỷ
XX là giai đoạn giao thời, chuyển tiếp. Hiện đại hóa là
một quá trình.
Chúng tôi theo quan điểm từ đầu thế kỷ XX với ý
nghĩa tương đối về thời gian và nhìn bao quát toàn bộ
diện mạo và thành tựu của văn học dân tộc.
2.2. Hiện đại hóa là một nhu cầu tất yếu, khách quan
của nền văn học dân tộc trên cơ sở những tiền đề kinh
tế, xã hội và văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Hình thái kinh tế, xã hội thay đổi từ Phong kiến sang
tư bản dưới hình thức thuộc địa, từ đó dẫn đến sự
phân hóa giai cấp mạnh mẽ làm thay đổi ý thức xã
hội.
- Sự tiếp xúc với Phương Tây về tư tưởng, học thuật,
trong đó có văn học. Từ đó hình thành đội ngũ nhà
văn và công chúng văn học mới khác thời Trung đại
(trí thức Tây học, TTS, thị dân, HS, SV…). Ý thức cá
nhân.
- Tính chất chuyên nghiệp hóa của hoạt động
sáng tác (viết văn là một nghề kiếm sống, tác
phẩm là hàng hóa để kinh doanh).
- Có các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động
sáng tác, giới thiệu, truyền bá tác phẩm (nhà
in, nhà XB, báo chí…)
- Có chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và
chữ Nôm.
3. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra
như thế nào?
3.1. Căn cứ vào bản thân văn học, công cuộc hiện
đại hóa văn học VN diễn ra theo quá trình từ Dịch
thuật, mô phỏng, phóng tác các tác phẩm văn học
nước ngoài (Pháp, Trung Quốc…) đến tự sáng tác .
Ở tất cả các khâu đều không tách rời truyền
thống.
3.2. Hiện đại hóa cả nội dung và hình thức.
3.3. Khó khăn, quanh co, phức tạp.
4. Các giai đoạn của quá trình HĐH
- 30 năm đầu thế kỷ XX: chuẩn bị, chuyển tiếp,
giao thời giữa Trung đại và hiện đại.
- 1930 – 1945: Hoàn tất một chu trình HĐH, đạt
nhiều thành tựu, hội nhập văn học thế giới. Xu
hướng vận động bao trùm là hiện đại hóa
- 1945 – 1975: VH đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
CSVN theo khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng
mạn. VH vận động theo hướng quần chúng hóa
và cách mạng hóa.
- Sau 1975: Đổi mới theo hướng dân chủ hóa.
4. Thế nào được coi là một hiện tượng trong
đời sống văn học?
- Khác thường, độc đáo, gây ấn tượng rõ rệt.
- Có sức thu hút sự chú ý của công chúng và dư
luận.
- Có thể có nhiều thái độ, ý kiến khác biệt về
phía người tiếp nhận (đồng hướng, nghịch
hướng).
Nguyên Hồng như một
hiện tượng văn học
Nguyên Hồng vào nghề năm 1936. Khi ấy,
văn đàn Việt Nam đã xuất hiện những tên tuổi
sáng giá ở hầu khắp các xu hướng (Lãng mạn:
TTTLVĐ, Thơ Mới; Hiện thực: Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng…) và thể loại văn học
(Phóng sự, tiểu thuyết, thơ, kịch…). Vậy, cái
khác người, cái độc đáo của NH là gì?
1. Nhà văn của những kiếp người
cùng khổ, dưới đáy xã hội
1.1. Cảm hứng chủ đạo: thương cảm những người cùng
khổ, dưới đáy của xã hội thực dân, phong kiến.
1.2. Thế giới nghệ thuật
- Con đường nghệ thuật nhất quán
- Bức tranh xã hội và nhân sinh: TP Hải Phòng phồn
tạp, lầm than.
- Nhân vật trung tâm của tác phẩm NH là những người
cùng khổ, dưới đáy (Phụ nữ, trẻ em).
1.3. Tình cảm nồng nhiệt đối với những nhân vật cùng
khổ, dưới đáy
2. Nhà văn có niềm tin sáng chói vào thiện căn
bền vững của những người lao động cùng khổ,
dưới đáy
2.1. Những “nhân vật trái tim” đầy lòng nhân
ái, vị tha mang tinh thần “chịu nạn”
2.2. Những nhân vật không bị tha hóa, không
chịu chết hẳn phần người trong một hoàn cảnh
tối tăm, thê thảm, hủy hoại nhân cách (trộm
cắp, đĩ điếm)
3. Những đặc sắc về nghệ thuật
3.1. Xây dựng tình huống truyện nhằm mục đích
gợi lòng thương cảm
- Tình huống éo le bi đát
- Tình huống bất hạnh chồng chất
3.2. Một ngòi bút hiện thực giàu chất lãng mạn
- Tình cảm dạt dào, sôi nổi
- Chất thơ (đời sống cần lao, thiên nhiên, cái nhìn
và niềm tin của nhà văn đối với người cùng khổ)
- Nhân vật khác thường
3.3. Bút pháp sôi nổi, nồng nhiệt
- Ngôn ngữ đời sống, giàu sức biểu cảm, gây
ấn tượng (thành ngữ, tiếng lóng, dấu cảm).
- Giọng điệu sôi nổi, thiết tha, cấu trúc chồng
tầng của lời văn nghệ thuật.
- Thủ pháp trần thuật giàu xúc cảm (tự sự
không giấu mình, độc thoại nội tâm, trữ tình
ngoài đề)
4. Kết luận về Nguyên Hồng
4.1. Sáng tác của Nguyên Hồng đã thoát hẳn ra
khỏi phạm trù thi pháp văn học Trung đại.
- Về thể loại: thành công cả truyện ngắn, tiểu
thuyết, ký bằng văn xuôi quốc ngữ.
- Nhân vật trung tâm không còn là tài tử giai nhân
mà là những người lao động nghèo khổ, dưới
đáy. Nội tâm nhân vật bộc lộ rõ.
- Ngôn ngữ lấm láp của đời sống cần lao, không
màu mè, chau chuốt, tượng trưng, ước lệ.
- Câu văn hiện đại, không còn dấu biền ngẫu
4.2. PC: Một kiểu tự sự không giấu mình, giàu xúc
cảm nhằm thể hiện lòng cảm thương thống thiết
những kiếp người cùng khổ và một niềm tin mãnh
liệt vào thiện căn bền vững của người lao động;
một cái nhìn lãng mạn về cuộc sống tinh thần của
người lao động trong khổ đau và bất hạnh; một
giọng trần thuật sôi nổi thiết tha với những hình
thức ngôn ngữ giàu xúc cảm, gây ấn tượng; một
sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa hiện thực và
chất lãng mạn. Đó là phong cách Nguyên Hồng.
Truyện Thầy Lazaro Phiền như một
hiện tượng văn học
Vai trò: đánh dấu, mở đầu quá trình HĐH
bằng kỹ thuật viết văn hư cấu của Nguyễn
Trọng Quản.
1. Vấn đề thể loại: Tác giả ghi là Truyện.
- Tiểu thuyết? Truyện dài? Truyện vừa? Truyện
ngắn? (25 trang).
- Giống nhau: Văn xuôi hư cấu, chuyện đời tư
số phận con người.
2. Ngôn ngữ:
Thoát ly hẳn văn biền ngẫu của văn học Trung
đại, “dùng tiếng thường mọi người hằng
nói”(trong khi Nhất Linh buổi đầu, Hồ Biểu
Chánh, Hoàng Ngọc Phách vẫn còn dùng).
3. Đề tài chủ đề:
Phạm tội, tự thú, sám hối – Con người nhân
bản, nhân văn.
4. Cốt truyện:
Từ bỏ cốt truyện truyền thống: Gặp gỡ-lưu lạcđoàn viên. Truyện xoay quanh 3 nhân vật
Không theo motip chương hồi, đánh số La Mã
cho từng phần, không có lời rào đón (muốn
biết...hồi sau).
5. Kết cấu:
Truyện kể không theo thời gian tuyến tính một
chiều. Toàn bộ truyện là hồi ức của thầy Phiền
miêu tả những đau đớn, ân hận vì phạm tội. Nó
lấy trạng thái tâm lý làm đối tượng miêu tả
chính, chứ không phải cốt truyện và hành động
của nhân vật.
6. Nghệ thuật trần thuật (kể):
Hai tầng trần thuật. Người trần thuật xưng tôi
đóng vai dẫn chuyện, còn nhân vật chính kể lại.
Khác hẳn truyền thống: người trần thuật ngôi thứ
3, vô hình biết hết mọi sự kể cho độc giả nghe.
Hai cái “tôi”, một là người dẫn chuyện, hai là nhân
vật chính kể lại cho người dẫn chuyện. Cái “tôi”
dẫn chuyện cũng như độc giả, ko biết gì hơn.
7. Hư cấu như thật
Đan xen chi tiết có vẻ phi hư cấu vào chuyện hư
cấu, gây ảo giác như thật của Truyện (thời gian,
chú thích).
Kết luận:
Truyện Thầy Lazaro Phiền ra đời năm
1887 là một sự đột phá về kỹ thuật viết văn hư
cấu theo kiểu hiện đại của Phương Tây. Tuy
nhiên, nó không được người sau kế thừa và
phát huy ở Nam Bộ vì nó quá mới, công chúng
chưa quen thưởng thức như với văn chương
truyền thống. Vì thế, công cuộc hiện đại hóa
tiểu thuyết theo kiểu viết của Nguyễn Trọng
Quản phải chuyển sang vai đội ngũ trí thức Tây
học ở Bắc kỳ.
Bài thơ Tình già của Phan Khôi như
một hiện tượng văn học
Vai trò: Mở đầu, “khai sinh” Phong trào Thơ Mới
1932 – 1945 ở nước ta
- Bài thơ này trong bài viết Một lối thơ mới trình
chánh giữa làng thơ của Phan Khôi đăng trên
báo Phụ nữ Tân văn số 122 (10/3/1932) nhằm
tuyên chiến công khai với Thơ cũ.
- Cái mới của bài thơ là:
Về nội dung: công khai cái tôi cá nhân một cách táo
bạo trên lĩnh vực tình yêu.
Về hình thức: thơ tự do, không bị bó buộc, câu
thúc bởi những niêm luật, vần đối.
- Bài viết của Phan Khôi đã dẫn đến một cuộc
tranh luận quyết liệt giữa 2 phái Thơ cũ và
Thơ Mới trên khắp Bắc, Trung, Nam như Hoài
Thanh đã tổng kết trong Thi nhân Việt Nam
(xem Một thời đại trong thi ca).
- Bài thơ chưa phải hay, hình tượng thơ chưa
thật mới, nhưng ý nghĩa mở đầu “một lối thơ
mới trình chánh giữa làng thơ”thì không ai
phủ nhận.
Thơ Xuân Diệu trước 1945 như một
hiện tượng văn học
XD là nhà thơ tiêu biểu đầy đủ nhất của Phong
trào Thơ Mới trước 1945 ở nước ta.
1. Một sự tự ý thức khẳng định cái tôi cá nhân
một cách mạnh mẽ, triệt để.
2. Nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với
đời – cái tôi cá nhân muốn hòa hợp với đời.
Ý nghĩa nhân bản lớn.
3. Một phương diện tiêu biểu của niềm khát
khao giao cảm với đời – tình yêu đôi lứa lành
mạnh và cường tráng
- Tình yêu mang màu sắc dục, giao cảm phần
xác
- Tình yêu mang tính lý tưởng, giao cảm phần
hồn
(so sánh với Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương
và một số nhà thơ Mới cùng thời)
4. Một cách tân thi pháp độc đáo
- Một cái nhìn thế giới đầy cảm giác mang màu
sắc dục của tình yêu đôi lứa.
- Coi vẻ đẹp của con người là chuẩn mực của
thế giới. Con người là vẻ đẹp của thế gian và
kiểu mẫu của muôn loài (ngược với văn
chương truyền thống coi vẻ đẹp của thiên
nhiên làm chuẩn cho vẻ đẹp của con người).
5. Thể thơ tự do, không bị ràng buộc câu thúc
bởi tính chất quy phạm chặt chẽ của văn học
Trung đại.
- Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây bay và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi! (Vội vàng)
- Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ,
Một giây cũng cam, một chút cũng đành.
(Lời thơ vào tập “Gửi hương”)
- Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi,
Dù chỉ là trong một phút mà thôi. ( Mời yêu)
- Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc vắn dài
Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt
- Thà một chút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
- Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non sắp già rồi
- Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai!
- Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
So sánh trong thơ Xuân Diệu:
-
Lá liễu dài như một nét mi…
Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ…
Hơi gió thở như ngực người yêu đến…
Mây đa tình như thi sĩ đời xưa…
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…
Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
như một hiện tượng văn học
Nhìn ở góc độ tác giả, VTP cũng là một hiện tượng
văn học độc đáo. Ông là một tài năng nhiều mặt:
Phóng sự, Tiểu thuyết, Kịch và một khả năng sáng
tạo có thể nói là phi thường, để lại một di sản văn
chương đồ sộ (riêng năm 1936 cho ra mắt 3 tiểu
thuyết: Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ). Thế nhưng, ông
cũng là một tác giả gây ra nhiều tranh cãi và đánh
giá trái chiều trong công chúng. Cuối cùng, vị trí
của ông ngày càng được khẳng định.
Đây chỉ nói đến 1 tác phẩm như một hiện tượng
1. Số đỏ là một tiểu thuyết hiện thực trào phúng
“độc nhất vô nhị” trong lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại.
(cùng thời: Nguyễn Công Hoan có truyện ngắn trào
phúng, Tú Mỡ, Đồ Phồn có thơ trào phúng).
2. Nghệ thuật trào phúng: Phát hiện, tạo dựng
mâu thuẫn gây cười và Phóng đại.
3. Đối tượng trào phúng: cả xã hội thành thị Việt
Nam dưới thời thuộc Pháp với nhiều hạng người.
Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công
Hoan như một hiện tượng văn học
NCH xuất hiện trên văn đàn với tư cách là đại
biểu của xu hướng văn học HTPP. Ông viết
nhiều, viết khỏe hai thể tài: Tiểu thuyết và
Truyện ngắn. Tuy nhiên, phần thành công nhất
của ông là thể tài Truyện ngắn trào phúng.
1. Lập trường phê phán trào phúng
- Quan điểm đạo đức phong kiến
- Quan điểm giàu nghèo
2. Đối tượng trào phúng
Quan lại, địa chủ cường hào, tư sản…
3. Nghệ thuật trào phúng: phát hiện, tạo dựng
tình huống gây cười, mâu thuẫn hài hước;
phóng đại, gói kín mở nhanh gây bất ngờ…
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao như
một hiện tượng văn học
1. Tác phẩm Chí Phèo trong sự nghiệp sáng tác
của Nam Cao
- Từ Cái lò gạch cũ – Đôi lứa xứng đôi – Chí Phèo
- Ý nghĩa cột mốc, đánh dấu, đỉnh cao CNHT của
Nam Cao cả về nội dung và hình thức hiện đại.
2. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
- Quy luật bần cùng, lưu manh hóa đối với người
nông dân dưới thời thuộc pháp.
- Cái nhìn và Niềm tin của nhà văn đối với người
LĐ
3. Nghệ thuật viết truyện hư cấu hiện đại
- Kết cấu truyện ko theo thời gian tuyến tính
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý
- Nhân vật điển hình
- Ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ.
Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao
như một hiện tượng văn học
1. Tiểu thuyết Sống mòn trong sự nghiệp sáng tác
của Nam Cao
2. Nội dung phản ánh cái đời thường, tầm
thường của tác phẩm, ko có cốt truyện
3. Hình ảnh người trí thức tiểu tư sản dưới thời
thuộc Pháp. Bi kịch chết mòn
4. Kết cấu tác phẩm ko theo cốt truyện mà theo
tâm lý. Nghệ thuật miêu tả tâm lý. Tính cách
nhân vật được soi rọi bên trong hơn là biểu
hiện bên ngoài

similar documents